Home Page by K2 Home Page by JSN PageBuilder

 

NI TRƯỞNG thượng NHƯ hạ HẢO


TRỤ TRÌ CHÙA PHỔ ĐỨC – TP. MỸ THO


(1936 -2004)


I. THÂN THẾ 
Ni trưởng Như Hảo, thế danh Lê Thị Hải, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1936 (Bính Tý) tại xã Sơn Đốc, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre - bên cạnh dòng sông Cửu Long sông nước hiền hòa.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân,  tánh tình nhân hậu chất phát. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Bo, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Đang. Trong gia đình có bảy anh chị em (năm trai, hai gái), Ni trưởng là người con thứ sáu.
Chắc có túc duyên sâu dày nên từ thuở nằm nôi đến khi vừa biết ăn, Ni trưởng chỉ thích ăn chay, lại nữa gia đình rất quý kính Tam Bảo. Lúc biết đi, Ni trưởng thường theo mẹ vào chùa lễ Phật nghe Kinh. Hạt giống Bồ-đề càng ngày thêm tăng trưởng trong tâm hồn trẻ thơ.


II. THỜI KỲ XUẤT GIA TU HỌC 
Năm 1947 (12 tuổi), Ni trưởng được cha mẹ gửi vào chùa Khánh Đức - Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre để xuất gia học đạo với Ni trưởng Như Huệ (trụ trì chùa Khánh Đức) và được ban Pháp danh là Huệ Hảo. Ở đó tu học được ba năm đến năm 1950, Ni trưởng được Bổn sư gởi đi tu học tại trường Hương chùa Tăng Già - Sài Gòn (nay là chùa Lim Liên, quận 4 – TP. Hồ Chí Minh).


Đến năm 1952 (17 tuổi), Ni trưởng thọ giới Sa-di-ni tại chùa Huê Lâm do Sư trưởng Như Thanh làm Hòa thượng Đàn đầu, và từ đó Ni trưởng Y chỉ với Ni trưởng Như Ngộ (Nguyên Hải) - Viện chủ chùa Phổ Đức.


Năm 1954, Ni trưởng tiếp tục tu học với thầy và huynh đệ tại chùa Phổ Đức 
Năm 1956 (21 tuổi), Ni trưởng được Bổn sư cho theo học Phật pháp tại Ni trường chùa Sắc Tứ Linh Thứu, Mỹ Tho. Cũng vào năm này, Ni trưởng thọ giới Thức-xoa-ma-na tại Ni trường Huê Lâm do Sư trưởng Huê Lâm làm Hòa thượng đàn đầu.


Năm 1959, Ni trường Sắc Tứ Linh Thứu dời về chùa Dược Sư - Gia Định (trụ sở đầu tiên của Ni bộ Bắc tông) và Ni trưởng tiếp tục tu học tại đây.
Năm 1961 (26 tuổi), với giới hạnh Cụ túc, oai nghi đĩnh đạc xứng đáng là pháp khí Đại thừa, Ni trưởng được Bổn sư cho thọ Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới tại chùa Từ Nghiêm – Sài Gòn (trụ sở Ni bộ Bắc tông). Ni trưởng tu học tại Ni trường Dược Sư đến năm 1966.
Năm 1967, trở về chùa Khánh Đức lo Phật sự được một năm, đến năm 1968, Ni trưởng lại quay về chùa Phổ Đức để tiếp tục sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, tiếp dẫn Ni lưu. 
Năm 1969 (34 tuổi), được Bổn sư và huynh đệ pháp lữ tín nhiệm giao nhiệm vụ trụ trì chùa Phổ Đức.


III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, Tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang cũng thành lập sau đó (năm 1985). Trong nhiệm kỳ I (1985 - 1988), Ni trưởng được giao chức vụ Ủy viên Ban Kinh tế Tài chánh của Tỉnh hội và được tấn phong Giáo phẩm Ni sư vào năm 1986 tại Đại hội Phật giáo Toàn quốc lần thứ 2.


Đến nhiệm kỳ lần thứ II và III (1989-1995) của Tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang, Ni trưởng nhận nhiệm vụ  Trưởng ban Hướng dẫn Nam Nữ Phật tử, trong giai đoạn này, Ni trưởng đã nuôi học chúng Ni của trường Cơ bản Phật học Tiền Giang - Khoá I.


Vì mạng mạch Phật pháp, vì trách nhiệm của người con Phật không thể ẩn tu, Ni trưởng đã không ngần ngại dấn thân hành đạo mang suối nguồn từ bi để xoa dịu những nỗi đau bất hạnh của con người. Do đó, Ni trưởng nhận lãnh hai trách nhiệm mới là Ủy viên ban Chấp hành hội Chữ Thập Đỏ và Ủy viên ban Chấp hành hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tiền Giang và không lâu sau nhận thêm trách nhiệm nữa là Trưởng ban Tài chánh trường Cơ bản Phật học Tiền Giang - Khoá II. Theo dòng thời gian, hoạt động Phật sự của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang không ngừng phát triển về mọi mặt, Ni trưởng nhận thêm trọng trách Trưởng ban Từ thiện - Xã hội suốt ba nhiệm kỳ. Trong tất cả các công tác Phật sự, Ni trưởng luôn hoàn thành trách nhiệm dù nơi xa xôi, hẻo lánh đến những vùng lũ lụt thiên tai đều in dấu chân của Ni trưởng. 
Từ 1995 đến 2002, Ni trưởng thường làm Chủ hương bên Ni tại những khoá An cư Kiết hạ do Tỉnh hội Phật giáo tỉnh nhà tổ chức. Bằng giới đức trang nghiêm là biểu tượng quy hướng cho Ni giới và Phật tử, Ni trưởng tham gia Phật sự trong Đại giới đàn An Lạc truyền giới cho Ni tại chùa Phổ Đức (1998). Năm 2000, Ni trưởng là thành viên ban Khảo hạch tổ chức tại chùa Phổ Đức. Ngoài những Phật sự trên, Ni trưởng được công cử làm Giám luật Ni ở trường Trung cấp Phật học (khoá II, khóa III) và cũng thường làm Giới sư để truyền trao giới pháp cho giới tử Ni.


Do có nhiều đóng góp, tại Đại hội Phật giáo Toàn quốc lần thứ V, Ni trưởng được tấn phong lên hàng Giáo phẩm Ni trưởng.
Trong sự nghiệp kế thừa mạng mạch, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Ni trưởng đã thế độ hàng trăm học chúng cũng như nhiều Phật tử Quy y Tam Bảo, hướng dẫn Ni chúng và Phật tử thực hiện hạnh lợi tha, tu tâm hành thiện để góp phần làm tốt đạo đẹp đời. Mặc dù thân tứ đại mang bệnh nhưng Ni trưởng luôn khắc phục bệnh duyên để tinh cần trong tu niệm, sống mô phạm để làm gương cho đàn hậu tấn.


Và để tán dương công đức phụng sự đạo pháp, dân tộc, làm tốt đời đẹp đạo, Ni trưởng đã được Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam trao tặng bằng Tuyên dương công đức và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh trao tặng nhiều bằng khen, giấy khen.


IV. THỜI KỲ VIÊN TỊCH 
Từ năm 1990 trở đi, trải qua các cơn bệnh nên sức khoẻ có phần giảm sút nhưng không vì thế mà làm Ni trưởng xao lãng trong thừa hành Phật sự, lợi lạc quần sanh. Những lúc nằm bệnh viện, Ni trưởng thường thể hiện lòng từ bi của mình bằng cách thăm hỏi cũng như phát quà cho những bệnh nhân đang điều trị.


Thế rồi ngày qua tháng lại, sức khỏe kém dần nhưng Ni trưởng lúc nào cũng an nhiên tự tại mặc cho cơn bệnh   
hoành hành. Vẫn sinh hoạt bình thường, không để xuất hiện thoáng lo âu trên nét mặt nhằm tránh sự bận tâm cho mọi người, lúc nào cũng minh mẫn, vui tươi trong từng cử chỉ, hành vi. Và đến tận những giây phút cuối đời, điều đặc biệt đáng để lại cho đời đó là Ni trưởng luôn một mực nghe theo lời dạy bảo của thầy.


Theo định luật vô thường, Ni trưởng đã xả báo thân sinh về cõi Phật vào ngày 29 tháng Giêng năm Giáp Thân (2004). Trụ thế 68 năm, 43 mùa An cư Kiết hạ.
Ni trưởng ra đi, vội khuất bóng nơi Ta-bà bỏ lại các pháp hữu vi giả tạm, hạnh nguyện chưa tròn, đường phụng sự đạo pháp và chúng sanh còn dang dở.
Cả cuộc đời của Ni trưởng luôn lấy Phật sự làm trọng, lấy việc lợi lạc quần sanh làm lẽ sống, lấy việc nghiêm trì giới luật làm thân giáo để sách tấn cho hàng môn đồ đệ tử, cống hiến cả cuộc đời mình cho đạo pháp. Quả là :
 “ Một mai thân xác tiêu tan,
  Đạo phong lưu lại thế gian muôn đời,
  Pháp thân lồng lộng sáng ngời,
  Sắc son pháp giới, rạng ngời chân như.”

(http://nigioivietnam.com/Hanh-trang-Chu-ni-Viet-Nam/71/ni-truong-thuong-nhu-ha-hao.html)