
Tủ Sách Bảo Anh Lạc 136
NGHI THỨC THỌ TRÌ
KINH DI GIÁO
Biên soạn Thích Nữ Giới Hương
Nhà Xuất bản HƯƠNG SEN
HƯƠNG SEN BUDDHIST TEMPLE
19865 Seaton Avenue, Perris, CA 92570, USA Tel: 951-657-7272, Cell: 951-616-8620
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.">HươThis email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.">thichnugioiHươThis email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. Fanpage: Hương Sen
Copyright 2026 by Huong Sen Buddhist Temple in the United States.
MỤC LỤC
- Cúng Hương 5
- Tán Phật 6
- Đảnh Lễ 7
- Tán Dương Chi 8
- Chú Đại-Bi 8
- Phát Nguyện Thọ Trì 10
- Khai Kinh Kệ 11
- Kinh Di Giáo 11
- Kinh Bát Nhã Ba La Mật 25
- Đảnh Lễ Tri Ân Đức Phật Bổn Sư 27
- Niệm Phật 31
- Sám Quy Mạng 31
- Sám Mười Hạnh Phổ Hiền 37
- Hồi Hướng 37
- Phục Nguyện 38
- Kính Lễ Bốn Ân Ba Cõi 41
- Tam Quy 42
- Bài Kệ Chư Thiên 43
- Thiện Nữ Thiên Chú 44
1. CÚNG HƯƠNG
(Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chỉ chủ lễ niệm)
Nguyện dâng hương mầu nầy
Cúng dường tất cả Phật Tôn Pháp,
chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác
Cùng các bậc Thánh Hiền.
Duyên khởi đài sáng chói
Khắp xông mười phương cõi
Tỏa ngát các chúng sanh
Đều phát tâm Bồ Đề
Xa lìa các vọng nghiệp
Trọn nên Đạo Vô Thượng.
Hôm nay đệ tử chúng con
Trì tụng kinh Di Giáo
Nguyện mười phương Chư Phật
Gia hộ cho đệ tử
Chúng con nương nhờ
Công đức này để tội diệt, phước sanh
Thiện căn tăng trưởng
Đạo tâm kiên cố, tinh tấn tu hành
Theo Chánh pháp của Như Lai
Luôn phát tâm Bồ Đề dõng mãnh,
Cùng pháp Giới chúng sanh
Đều trọn Thành Phật đạo.
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát. (o) (1 xá)
2. TÁN PHẬT
Tán Phật tướng hảo
Đương nguyện chúng sanh
Thành tựu Phật thân
Chứng Vô tướng pháp.
Án mâu ni, tam mâu ni, tát phạ hạ.(3 lần) (o)
3. ĐẢNH LỄ
(Đại chúng đồng tụng)
Chí tâm đảnh lễ:
Nam Mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (o) (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ:
Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (o) (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ:
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (o) (1 lạy)
4. TÁN DƯƠNG CHI
(Mời ngồi xuống và khai chuông mõ)
Cành dương nước tịnh nhiệm mầu
Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau
Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh
Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn
Cam lồ rưới khắp trần gian
Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa.
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) (o)
5. CHÚ ĐẠI-BI
Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) (o)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà- la-ni.
Nam Mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam Môa rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam Mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam Mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ- đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam Mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam Mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần) (o)
Nam mô Thập phương Thường trú Tam Bảo. (3 lần) (o)
6. PHÁT NGUYỆN THỌ TRÌ
Kính lạy Tam Giới Tôn
Quy mạng mười phương
Phật Nay con phát nguyện lớn
Thọ trì Kinh Di Giáo
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ ba đường
Nguyện kẻ thấy người nghe
Đều phát Bồ đề tâm
Hết một báo thân này
Đồng sanh về Tịnh Độ (o)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần) (o)
7. KHAI KINH KỆ
Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu,
Con nay nghe thấy chuyên trì niệm,
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam mô Sa-la Song Thọ Niết Bàn Hội Thượng Phật Bồ tát ma-ha-tát (3 lần)
8. KINH DI GIÁO
(Cưu-ma-la-thập dịch từ Phạn sang Hán Sakya Minh-Quang dịch từ Hán sang Việt) (Kinh Di Giáo, Cưu-ma-la-thập dịch từ Phạn sang Hán, Sakya Minh-Quang soạn dịch từ Hán sang Việt, Học Viện Phật Thừa Buddhayana Academy, IL,)
Phật Thích-ca Mâu-ni lần đầu chuyển Pháp luân độ ngài Kiều-trần-như, cho đến lần sau cùng độ Tu-bạt-đà-la, những ai nên được độ Như Lai đều đã độ. Lúc sắp vào Niết-bàn, trong đêm khuya thanh vắng, không có một tiếng động, giữa hai cây Sa-la, đức Phật vì đệ tử nói tóm lược Pháp yếu.
Này Tỳ-kheo các ông, sau khi ta nhập diệt, các ông nên tôn kính Ba-la-đề-mộc-xoa, là giới biệt giải thoát, như người tối gặp sáng, người nghèo được của báu. Các ông nên biết rằng, giới chính là Thầy lớn; dù ta còn ở đời, cũng không khác giới này.
Người giữ gìn tịnh giới không được làm kinh doanh hay mua sắm nhà đất, chứa tôi tớ, nô tỳ, và chăn nuôi gia súc. Phải tránh việc trồng trọt, tiền tài và châu báu như tránh xa hầm lửa. Không được chặt cây cỏ, khai khẩn cày sới đất, điều chế các loại thuốc, xem tướng bói tốt xấu, coi sao tính lợi hại, xem lịch chọn ngày tốt… đều khô- ng nên vi phạm.
Phải biết tiết chế thân, ăn uống phải đúng thời, sống thanh tịnh đạm bạc. Không được tham dự vào các việc của thế gian, làm sứ giả liên lạc, chú thuật chế thuốc tiên, kết giao kẻ quyền quý, gần gũi mong trọng
hậu, rồi ngạo mạn khinh người. Những việc thế tục này đều không nên vi phạm.
Nên đoan chánh tâm mình, chánh niệm cầu giải thoát. Không được che dấu lỗi, tỏ lạ thường dối người. Đối bốn việc cúng dường biết đủ biết hạn lượng; dù cho được cúng nhiều, cũng chia sẻ người khác mà không nên tích chứa.
Trên đây là tóm lược về tướng trạng trì giới. Giới thuận gốc giải thoát nên giới được gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa, tức là thuận giải thoát. Do nương nơi giới này sinh được các thiền định và trí tuệ diệt khổ. Vì vậy là Tỳ-kheo phải gìn giữ tịnh giới, chớ hủy phạm thiếu khuyết. Ai trì giới thanh tịnh sẽ có được pháp lành. Nếu giới không thanh tịnh, công đức lành không sinh. Cho nên phải biết giới là trụ xứ công đức an ổn vào bậc nhất. (o)
Này Tỳ-kheo các ông, đã an trụ tịnh giới, phải chế ngự năm căn, đừng để năm căn này buông lung vào năm dục, như người đang chăn trâu cầm roi luôn canh chừng, không để phạm lúa mạ. Nếu buông lung
năm căn, không chỉ phạm năm dục, mà phóng túng vô cùng, không thể chế ngự được.
Cũng ví như ngựa dữ không thể giữ bằng cương, sẽ kéo người dẫn ngựa rơi vào trong hố sâu. Bị giặc cướp làm hại chỉ khổ trong một đời, giặc năm căn gây họa, khổ đến trăm ngàn đời! Năm căn gây tai họa thực hết sức nặng nề, các ông phải thận trọng! Cho nên, người có trí chế ngự năm căn mình, không buông lung theo chúng. Hãy phòng hộ năm căn như luôn canh giữ giặc, không một chút buông lơi. Nếu buông lung năm căn, thì cũng không bao lâu, ông sẽ bị diệt vong! (o)
Tâm làm chủ năm căn. Cho nên các ông phải khéo chế phục tâm mình. Tâm thực rất đáng sợ còn hơn là rắn độc, thú dữ hay giặc thù, hoặc lửa lớn cháy lan, cũng chưa đủ ví dụ! Như người cầm bình mật bước đi không cẩn trọng, chỉ nhìn vào bình mật mà không thấy hố sâu; Như voi điên không móc, khỉ vượn gặp rừng cây, xông chạy và leo chuyền, thực rất khó cấm chế. Cho nên phải mau gấp chế ngự được tâm này không để cho buông lung.Nếu buông lung tâm này, sẽ đánh mất việc lành; chế ngự tâm một chỗ, không việc gì không xong! Cho nên, các Tỳ-kheo phải nên luôn tinh tấn, chiết phục tâm ý mình.
Này Tỳ-kheo các ông, khi nhận đồ ăn uống phải thọ dụng như thuốc, đối với món ngon dở, không tham cũng không chê, chỉ dùng để nuôi thân, nhằm dứt trừ đói khát. Như ong lấy mật hoa, chỉ lấy đi vị ngọt mà khô- ng hại sắc hương. Tỳ-kheo cũng như vậy, nhận của người cúng dường để dứt cơn đói khát, nên không được cầu nhiều, phá hư Đạo tâm người. Ví như người có trí, biết ước lượng sức trâu, không để kéo quá sức, khiến trâu bị kiệt lực.
Này Tỳ-kheo các ông, ban ngày nên nhiếp tâm siêng tu các pháp lành, không để lỡ thời khóa. Đầu đêm và cuối đêm cũng khô- ng có phế bỏ. Giữa đêm nên tụng kinh để tăng trưởng tự thân. Đừng vì lý do ngủ để đời mình trôi qua vô ích không thành tựu. Phải nhớ lửa vô thường luôn thiêu đốt thế gian để sớm cầu tự độ, đừng có tham ngủ nghỉ. Giặc phiền não rình rập còn dữ hơn oan gia thừa cơ giết chết mình, tại sao các ông lại yên lòng mà ngủ nghỉ, không biết tự giác tỉnh? Con rắn độc phiền não ngủ trong tâm các ông như con rắn độc đen đang nằm ngủ trong phòng! Các ông phải mau dùng móc trì giới lôi ra! Rắn ngủ đã ra khỏi mới an tâm nằm ngủ. Rắn ngủ chưa ra khỏi mà lại lo nằm ngủ, là người không hổ thẹn! (o)
Hổ thẹn là y phục đẹp nhất trang nghiêm thân. Hổ thẹn là móc sắc chế phục điều phi Pháp. Phải có tâm hổ nhục, không lúc nào tạm quên. Nếu rời tâm hổ nhục sẽ mất các công đức. Người có tâm hổ thẹn sẽ có được pháp lành; người không có hổ thẹn không khác loài cầm thú!
Này Tỳ-kheo các ông, nếu có người chặt đứt thân ông ra từng phần, hãy nên thu nhiếp tâm, không để sân hận khởi. Cũng nên giữ cửa miệng, đừng thốt ra lời ác. Nếu tâm sân nổi lên sẽ tự mình chướng Đạo, đánh mất vốn công đức. Công đức của nhẫn nhục còn lớn hơn công đức của trì giới, khổ hạnh! Người nhẫn nhục như vậy mới có thể gọi là bậc đại nhân sức mạnh.
Ai không thể hoan hỷ nhẫn chịu độc mắng chửi như uống nước cam lộ thì không thể gọi là người nhập đạo trí tuệ. Vì sao lại như vậy? Cái hại của sân hận phá hư mọi pháp lành, làm tổn hại tiếng tốt, đời này và đời sau không ai thích gặp mặt. Nên biết tâm sân hận còn hại hơn lửa dữ, cho nên thường phòng hộ, không để sân xâm nhập. Giặc dữ cướp công đức không gì hơn sân hận. Người bạch y ở đời còn hưởng thụ dục lạc, không phải người hành đạo, khô- ng thể chế phục tâm, nên nếu họ sân hận cũng có thể cảm thông. Còn người đã xuất gia thực hành đạo giải thoát là người sống vô dục mà ôm lòng sân hận, là điều không thể được. Như trời quang mây tạnh, khí hậu lại mát mẻ mà sấm sét nổi lên, cỏ cây bị bốc cháy, là điều không thích hợp. (o)
Này Tỳ-kheo các ông, hãy tự rờ lên đầu! Các ông đã dẹp bỏ cái đẹp của trang sức, đắp chiếc y hoại sắc, hai tay cầm bình bát sống bằng hạnh khất thực. Nếu thấy mình như vậy mà khởi tâm kiêu mạn nên mau chóng dứt trừ. Nuôi lớn lòng kiêu mạn là điều người bạch y ở đời không nên có, huống chi người xuất gia vào đạo vì giải thoát, hạ mình đi xin ăn?
Này Tỳ-kheo các ông, tâm dua nịnh trái Đạo! Cho nên phải giữ tâm luôn chân thực ngay thẳng. Nên biết tâm dua nịnh chỉ vì dối gạt người. Người đã vào trong Đạo đừng dua nịnh như vậy. Cho nên các ông phải đoan chánh tâm ý mình, lấy tâm ý ngay thẳng làm gốc của tu hành. (o)
Này Tỳ-kheo các ông, nên biết người đa dục, cầu lợi nhiều, khổ nhiều. Người thiểu dục vô cầu, vì không có dục vọng nên không có tai họa. Nếu ít muốn chỉ được bao nhiêu đó lợi ích cũng phải nên tu tập, huống chi là ít muốn còn có thể sinh ra nhiều công đức khác nữa.
Người ít muốn sẽ không dua nịnh lấy lòng người; cũng không bị các căn lôi kéo vào năm dục. Người ít muốn thanh thản không có gì sợ hãi, gặp việc đều tự tại, thường tự thấy đầy đủ. Người có tâm ít muốn là sẽ có Niết-bàn. Đây gọi là ít muốn.
Này Tỳ-kheo các ông, nếu muốn thoát khổ não nên quán xét biết đủ. Biết đủ là giàu vui và là chỗ an ổn. Người biết đủ tuy nằm trên đất vẫn an vui, người mà không biết đủ dù ở nơi thiên đường, cũng không thấy vừa ý. Người mà không biết đủ tuy giàu nhưng lại nghèo, người biết đủ tuy nghèo lại vô cùng giàu có. Người mà không biết đủ bị năm dục kéo lôi, người biết đủ thấy vậy, cảm thấy thực đáng thương. Đây gọi là biết đủ. (o)
Này Tỳ-kheo các ông, muốn cầu vui vắng lặng phải xa lìa ồn náo, một mình tu chỗ vắng. Người biết sống một mình được Đế Thích, chư thiên đều hết lòng kính trọng. Cho nên các ông phải xa rời hội chúng mình, hay hội chúng người khác, sống một mình nơi vắng, vô sự để thiền tư chấm dứt cội gốc khổ. Nếu thích nơi đông người sẽ gánh chịu não phiền. Ví như cây to lớn chim chóc tụ tập đông sẽ có họa khô gãy. Người bận rộn vướng mắc bởi những việc thế gian sẽ mãi mãi chìm đắm trong biển khổ sinh tử, như voi già sa lầy, không thể tự ra khỏi. Đây gọi là viễn ly. (o)
Này Tỳ-kheo các ông, nếu siêng năng tinh tấn không có việc gì khó; như một dòng
nước nhỏ chảy mãi cũng xuyên đá. Cho nên các ông phải siêng tinh tấn tu tập. Tâm hành giả lười nhác sẽ phế bỏ công phu. Như dùi cây lấy lửa, nếu cây còn chưa nóng mà đã vội dừng tay, không sao có lửa được. Đây gọi là tinh tấn.
Này Tỳ-kheo các ông, cầu bậc thiện tri thức và cầu người hỗ trợ cũng không bằng chánh niệm luôn luôn được hiện tiền. Ai không quên chánh niệm giặc phiền não không vào. Cho nên các ông phải thường nhiếp niệm nơi tâm. Ai đánh mất chánh niệm là đánh mất công đức! Nếu sức chánh niệm mạnh, tuy vào trong năm dục cũng không sợ bị hại. Như dũng sĩ mặc giáp không sợ hãi ra trận. Đây là luôn chánh niệm.
Này Tỳ-kheo các ông, nhiếp tâm sẽ được định. Tâm định biết được tướng sinh diệt của thế gian. Cho nên các ông phải tinh tấn tu thiền định. Nếu người đã đắc định, tâm không còn phân tán. Như nhà nông quý nước khéo xây bờ đắp đê, hành giả cũng như vậy, vì giữ nước trí tuệ nên khéo tu thiền định, không để trí tuệ mất. Đây gọi là thiền định. (o)
Này Tỳ-kheo các ông, có trí tuệ sẽ không tham trước việc thế gian. Ai thường quán sát mình, không đánh mất trí tuệ, người đó sẽ giải thoát trong giáo Pháp của ta. Nếu không có trí tuệ không phải là đạo nhân, cũng không phải bạch y, không biết gọi là gì! Trí tuệ là thuyền chắc giúp vượt biển sinh tử, trí tuệ là đèn lớn phá tan tối vô minh, trí tuệ là thuốc thần trị lành mọi bệnh khổ, trí tuệ là búa bén đốn ngã cây phiền não. Cho nên các ông phải tu tuệ qua lắng nghe, tư duy và thực hành, để trí tuệ tăng trưởng, có được lợi ích lớn trên con đường giải thoát. Người trí tuệ tuy khô- ng có thần thông thiên nhãn nhưng vẫn là người có cái thấy thực sáng suốt. Đây gọi là trí tuệ.
Này Tỳ-kheo các ông, hý luận khiến tâm loạn, tuy là người xuất gia vẫn không thể thoát khỏi. Cho nên Tỳ-kheo phải buông bỏ gấp hý luận khiến loạn tâm của mình. Các ông muốn hưởng được niềm an vui tịch diệt thì phải khéo diệt trừ tai họa của hý luận. Đây là không hý luận. (o)
Này Tỳ-kheo các ông, hãy nhất tâm tu tập các công đức pháp lành, và tránh sự biếng nhác như tránh xa giặc thù. Tu tập như thế nào, được lợi ích ra sao, đã được đức Thế Tôn nói ra hết tất cả vì thương xót chúng sinh. Điều còn lại chính là các ông phải tinh tấn thực hành lời ta dạy. Dù ở trong núi rừng, hay bên bờ ao vắng, hoặc ngồi dưới gốc cây, nơi vắng vẻ, tịnh thất…, các ông phải luôn nhớ Pháp mình đã nhận lãnh, đừng để cho quên mất. Thường khích lệ bản thân, luôn tinh tấn tu tập, không để chết vô ích, rồi hối hận về sau. Ta như vị lương y biết bệnh và biết thuốc, còn chịu uống hay không là tùy vào người bệnh, không phải lỗi lương y! Ta như người dẫn đường, dẫn người vào đường tốt; nghe mà không chịu đi, không phải lỗi người dẫn!
Đối với bốn Thánh đế: khổ, tập, diệt và đạo, các ông có gì nghi, hãy mau mau thưa hỏi, đừng để ở trong lòng, mà không cầu giải quyết. Bấy giờ đức Thế Tôn lặp lại đến ba lần, nhưng không có ai hỏi. Vì sao lại như vậy? Vì không ai nghi ngờ. Ngài A-nậu- lâu-đà lúc đó hiểu lòng chúng, nên bạch đức Phật rằng: “Kính bạch đức Thế Tôn, mặt trăng có thể nóng, mặt trời có thể lạnh, nhưng bốn Thánh đế này do đức Phật nói ra không sao sai khác được. Đức Phật nói khổ đế thực sự đó là khổ, không thể khiến thành vui; tập đế chính thực là nguyên nhân của khổ đế, không nguyên nhân nào khác. Nói chấm dứt đau khổ là chấm dứt nhân khổ. Do nhân khổ đã diệt, nên quả khổ cũng diệt. Đạo đế là con đường chấm dứt khổ đế này. Đây là đường chân chính, không có đường nào khác. Kính bạch đức Thế Tôn, những vị Tỳ-kheo này không có gì nghi ngờ đối với bốn Thánh đế.” (o)
Trong hội chúng lúc đó, ai chưa chứng Thánh quả, thấy đức Phật diệt độ đều xúc động buồn thương. Những ai mới thâm nhập nơi giáo nghĩa Phật Pháp, nghe lời Phật giảng xong, thảy đều được đắc độ. Như đêm thấy ánh sáng lóe ngang qua bầu trời, thấy Đạo cũng như vậy. Còn ai đã tu xong, vượt qua được biển khổ, chỉ nghĩ như thế này: “Đức Thế Tôn diệt độ, sao mà mau chóng quá!”
Tuy A-nậu-lâu-đà đã thưa Thế Tôn rằng mọi người đều hiểu rõ ý nghĩa bốn Thánh đế, nhưng với lòng đại bi, Thế Tôn muốn mọi người được đạo tâm kiên cố, nên nói: “Này Tỳ-kheo, đừng ôm lòng buồn thương. Dù ta có ở đời dài lâu đến một kiếp, cuối cùng cũng nhập diệt. Hội họp mà chẳng tan là điều không thể có. Như Lai đã làm đủ pháp tự lợi lợi tha. Nếu ta ở lâu hơn trong cõi thế gian này cũng không lợi ích gì. Những ai có thể độ, dù cõi trời cõi người, Như Lai đều đã độ; những ai chưa độ được, Như Lai đều gieo duyên được đắc độ về sau. Từ nay đến tương lai, nếu đệ tử của ta lần lượt hành Chánh Pháp, pháp thân của Như Lai sẽ thường trú bất diệt. Cho nên phải biết rằng, thế gian vốn vô thường, có họp phải có tan, đừng ôm lòng buồn khổ. Thế gian vốn như vậy, phải siêng tu tinh tấn, sớm cầu đạo giải thoát. Hãy dùng trí tuệ sáng trừ bóng tối si mê! (o)
Cuộc đời rất mong manh, không có gì chắc thực. Hôm nay ta tịch diệt như trừ được bệnh dữ. Thân này nên xả bỏ, vật gây bao tội ác, giả danh gọi là thân, chìm đắm mãi trong biển sinh già bệnh và chết. Xả bỏ được thân này như giết được giặc thù, người trí sao lại không sinh khởi lòng hoan hỷ?
Này Tỳ-kheo các ông, phải nên luôn nhất tâm, siêng cầu đạo giải thoát. Tất cả pháp thế gian hoặc động hay bất động, đều là tướng vô thường, không có gì an ổn. Các ông hãy dừng lại, không được nói gì thêm. Giờ khắc đã đến rồi, Như Lai sắp diệt độ. Đây là lời răn dạy cuối cùng ta để lại. (o)
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (o)
9.KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT
Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.
“Này Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế”.
“Này Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc.
Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn.
Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thuợng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư”.
Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”. (3 lần) (o)
10. ĐẢNH LỄ TRI ÂN ĐỨC PHẬT BỔN SƯ
- Chủ lễ xướng:
Nhất tâm đảnh lễ:
Từ vô lượng kiếp xưa
Luôn hành Bồ-tát đạo
Xả thân mình gieo giống từ bi
Công đức ấy không sao ví được.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lạy) (o)
- Chủ lễ xướng:
Nhất tâm đảnh lễ:
Cõi Ta-bà thị hiện
Nơi dòng Thích thọ sanh
Thánh Ma-da mộng ứng điềm lành
Nơi vương thất chan hòa phước lạc.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lạy) (o)
- Chủ lễ xướng:
Nhất tâm đảnh lễ:
Nơi vườn Lâm-tỳ-ni
Thị hiện tướng đản sanh
Hoa sen nâng bảy bước du hành
Chỉ Phật tánh, xưng tôn ba cõi.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lạy) (o)
- Chủ lễ xướng:
Nhất tâm đảnh lễ:
Dạo nơi bốn cửa thành Thấy lẽ khổ chúng sanh
Vì thương đời một dạ tu hành Bỏ tất cả xuất gia tầm đạo.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lạy) (o)
- Chủ lễ xướng:
Nhất tâm đảnh lễ:
Sáu năm tu núi Tuyết
Trải bao cảnh gió sương
Tìm chân lý soi sáng đêm trường
Trong tâm Ngài lai láng tình thương.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lạy).
- Chủ lễ xướng:
Nhất tâm đảnh lễ:
Tìm ra đường trung đạo
Lìa vui khổ hai đường
Dùng định tuệ hàng phục ma vương
Sao mai mọc thành ngôi Vô Thượng.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lễ) (o)
- Chủ lễ xướng:
Nhất tâm đảnh lễ:
Suốt bốn mươi lăm năm
Không nề bao gian khổ
Đem Chánh Pháp từ bi tế độ
Trời người đều ngưỡng mộ tu hành.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lạy) (o)
- Chủ Lễ Xướng
Nhất tâm đảnh lễ:
Rừng Sa-la song thọ
Độ chúng đã mãn duyên
Thị hiện nhập vô dư Niết-bàn Lưu xá-lợi rộng độ nhân thiên.
Đại chúng hòa:
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật (1 lạy) (o)
- NIỆM PHẬT Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. (21- 108 lần) (o)
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần) (o)
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần) (o)
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. (3 lần) (o)
Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) (o)
12. SÁM QUY MẠNG
Quy mạng Điều Ngự trong mười phương Pháp mầu thanh tịnh khéo tuyên dương Thánh Tăng bốn quả, ba thừa pháp
Xin dũ lòng từ, nguyện xót thương.
Đệ tử chúng con, Tự xa chân tánh,
Uổng đọa dòng mê Theo sinh tử mãi thăng trầm
Tham sắc thanh luôn ô nhiễm.
Mười triền mười sử
Kết thành hữu lậu nghiệp nhân;
Sáu căn sáu trần
Lầm tạo biết bao tội lỗi.
Đắm chìm biển khổ Lạc bước đường tà
Chấp ngã, chấp nhân Sai lầm điên đảo.
Nhiều đời nghiệp chướng Tất cả tội khiên
Nguyện Tam Bảo đức từ bi Chứng lòng thành con sám hối. (o)
Kính nguyện:
Thế Tôn cứu độ Bạn tốt dắt dìu
Ra khỏi phiền não sông mê
Bước lên Bồ-đề bến giác.
Hiện đời bình an phước lạc
Sở nguyện tựu thành;
Kiếp sau mầm giác đơm hoa
Bồ-đề kết quả.
Sinh nơi Phật Pháp
Sớm gặp minh sư
Chánh tín xuất gia
Tuổi thơ vào Đạo.
Sáu căn thông lợi
Ba nghiệp sạch trong
Chẳng nhiễm duyên đời
Thường tu phạm hạnh.
Nghiêm trì giới cấm
Chẳng vướng nghiệp trần
Vững chãi oai nghi Không hại sinh vật.
Không gặp tám nạn
Chẳng thiếu bốn duyên
Bát-nhã trí được hiện tiền
Bồ-đề tâm luôn bất thoái. (o)
Tu tập Chánh Pháp
Liễu ngộ Đại Thừa
Hành môn sáu độ lợi sinh
Vượt biển ba kỳ thành Phật.
Dựng cờ Chánh Pháp nơi nơi
Phá lưới nghi ngờ lớp lớp
Hàng phục chúng ma
Nối dòng Tam Bảo.
Phụng sự mười phương chư Phật
Chẳng nệ nhọc nhằn,
Tu tập tất cả pháp môn
Thảy đều thông đạt.
Rộng tu phước tuệ
Lợi lạc quần sinh,
Chứng được sáu loại thần thông
Chỉ trong một đời thành Phật.
Sau đó, Không bỏ pháp giới
Vào chốn trần lao
Từ bi đồng với Quán Âm Hạnh
nguyện rộng như Phổ Hiền.
Phương đây phương khác
Tùy thuận muôn loài
Ứng hiện sắc thân
Tùy cơ thuyết Pháp.
Trong đường địa ngục
Ngạ quỷ khổ đau
Hoặc phóng ánh quang minh Hoặc hiện các thần biến
Nếu ai thấy thân con Cho đến nghe được tên Đều phát Bồ-đề tâm
Thoát hẵn luân hồi khổ. (o)
Nơi có lò lửa sông băng
Thành rừng chiên-đàn.
Kẻ nuốt nước đồng hoàn sắt
Hóa sinh Tịnh Độ.
Mang lông đội sừng
Thiếu nợ hàm oan
Hết nỗi tân toan
Thảy đều lợi lạc.
Trong đời dịch bệnh
Hiện thành cây thuốc
Cứu bệnh trầm kha,
Lúc đói mất mùa
Hóa ra lúa gạo
Giúp người nghèo đói;
Chỉ cần lợi ích
Thệ chẳng từ nan.
Lại nguyện:
Oán thân nhiều kiếp
Quyến thuộc hiện tiền
Hết đắm chìm trong bốn loại
Dứt ân ái buộc nhiều đời
Cùng với chúng sanh
Đồng thành Phật đạo.
Hư không có hạn
Nguyện con không cùng
Hữu tình vô tình
Đồng nên Phật trí. (o)
13. SÁM MƯỜI HẠNH PHỔ HIỀN
Một là lễ kính các đức Phật
Hai là khen ngợi đức Như Lai
Ba là rộng sắm đồ cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng.
Năm là tùy hỷ công đức
Sáu là thỉnh đức Phật thuyết pháp.
Bảy là thỉnh đức Phật ở lại đời.
Tám là thường học đòi theo Phật.
Chín là hằng thuận lợi chúng sanh.
Mười là hồi hướng khắp tất cả. (o)
14. HỒI HƯỚNG
Trì Kinh công đức, hạnh nhiệm mầu
Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu
Tất cả chúng sanh trong pháp giới
Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu.
Nguyện cho ba chướng tiêu tan
Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời
Cầu cho con được đời đời
Hành Bồ Tát Đạo cứu đời lầm than.
Nguyện sanh Tây Phương, cõi Lạc Bang
Cha mẹ, sen vàng chín phẩm sanh
Hoa nở, thấy Phật, quả viên thành
Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.
Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh
Đều chứng thành Phật quả. (o)
15. PHỤC NGUYỆN
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô Tam Bảo chứng minh, oai thần hộ niệm.
Hôm nay ngày..., chúng con (chủ lễ) là…… cùng với các Phật tử chùa Hương Sen, Perris, California, một dạ chí thành vân tập tại Đại Hùng Bảo Điện Hương Sen trì tụng Kinh Di Giáo. Nguyện đem công đức này hướng về mười phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Thánh Hiền Tăng chứng giám.
Đệ tử chúng con chí tâm hướng nguyện: Khắc ghi lời di huấn sau cùng của Đức Từ Phụ trước khi nhập Niết Bàn; nguyện lấy Giới luật làm thầy, lấy sự tinh tấn làm hành trang, nỗ lực chế ngự thân tâm, không cho phóng dật. Cầu nguyện cho trí tuệ phát sinh, phiền não đoạn tận, thấu hiểu lẽ vô thường, vững bước trên con đường giải thoát giác ngộ.
Đệ tử chúng con nguyện Phật nhật tăng huy, Pháp luân thường chuyển, phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Cầu an cho Phật tử. (tên, pháp danh, tuổi) cùng toàn thể
gia quyến và các Phật tử hiện diện tại đây, tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ, nghiệp chướng tiêu tan, gia đạo bình an, thân tâm thường an lạc, vạn sự cát tường như ý. Nguyện cho các vị tâm Bồ đề kiên cố, chí tu
học vững bền, y giáo phụng hành, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
Lại nguyện đem công đức này cầu siêu cho hương linh...... (tên, Pháp danh, ngày sinh, ngày chết, tuổi thọ) cùng cửu huyền thất tổ nội ngoại hai bên, phụ mẫu quá vãng nhiều đời của chúng con; cùng tất cả các hương linh ký tự tại Chùa Hương Sen, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, và các vong linh uổng tử trong cõi u huyền. Nhờ sức gia trì của Chư Phật, sớm lìa đường khổ, xả bỏ chấp niệm, nghe kinh hiểu đạo, siêu sinh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.
Sau cùng, nguyện chúng con cùng tất cả chúng sanh đều sớm trọn thành Phật đạo.
Đại chúng đồng niệm:
Nam Mô A Di Đà Phật. (o)
16. KÍNH LỄ BỐN ÂN BA CÕI
(Đại chúng đứng lên)
Bao nhiêu tất cả nhân sư tử
Mười phương ba đời cùng các cõi
Con đem thân miệng ý thanh tịnh
Lạy khắp tất cả không còn dư. (o)
Nhất tâm đảnh lễ, đệ tử chúng con đại vì bốn ân ba cõi chí thành đảnh lễ:
Nam Mô Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật. (o) (1 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ, đệ tử chúng con đại vì bốn ân ba cõi chí thành đảnh lễ:
Nam Mô Hiện Tại Hiền Kiếp Thiên Phật. (o) (1 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ, đệ tử chúng con đại vì bốn ân ba cõi chí thành đảnh lễ:
Nam Mô Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật. (o) (1 lạy)
17. TAM QUY
Con nương theo Phật,
Cầu cho chúng sanh
Tin chắc Đạo cả,
Phát lòng vô thượng. (o) (1 lạy)
Con nương theo Pháp,
Cầu cho chúng sanh
Thấu rõ kinh tạng,
Trí huệ như biển. (o) (1 lạy)
Con nương theo Tăng,
Cầu cho chúng sanh
Kính tín hòa hợp,
Tất cả không ngại. (ooo) (1 lạy)
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo. (o)
18. BÀI KỆ CHƯ THIÊN
Trời, A-tu-la, Dạ xoa thảy
Đến nghe pháp đó nên chí tâm
Ủng hộ Phật pháp khiến thường còn
Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy.
Bao nhiêu người nghe đến chốn này
Hoặc trên đất liền hoặc hư không
Thường với người đời sanh lòng từ
Ngày đêm tự mình nương pháp ở.
Nguyện các thế giới thường an ổn
Phước trí vô biên lợi quần sanh
Bao nhiêu tội chướng thảy tiêu trừ
Xa lìa các khổ về viên tịch.
Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng
Thường trì định phục để giúp thân
Hoa mầu bồ đề khắp trang nghiêm
Tùy theo chỗ ở thường an lạc. (o)
Nam mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) (o)
19. THIỆN NỮ THIÊN CHÚ
Nam mô Phật Đà
Nam mô Đạt Ma
Nam mô Tăng Già
Nam mô thất lỵ, ma ha để tỷ da, đát nể dã tha, ba lỵ phú lầu na, giá lỵ tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, tam mạn đà, tỳ ni dà đế, ma ha ca rị dã, ba nể, ba ra, ba nể, tát rị phạt lạt tha, tam mạn đà, tu bác lê đế, phú lệ na, a rị na, đạt ma đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha Di Lặc đế, lâu phả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà, a tha a nậu, đà la ni. (3 lần) (o)
Vi đà thiên tướng
Bồ tát hóa thân
Ủng hộ Phật Pháp
thệ hoằng thâm
Đạo sự chứng ma quân
Công đức nan luân
Kỳ đạo thệ hoằng thâm.
Nam Mô Phổ Nhãn Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) (ooo)
Dĩ thử kinh chú công đức
Hồi hướng hộ pháp Long thiên
Pháp giới, già lam linh thông,
Thủ hộ đạo tràng chân tể
Kỳ phước bảo an bình thiện,
Trang nghiêm hữu vị tiên vong,
Phổ nguyện pháp giới chúng sanh,
Cập nhập Tỳ Lô tánh hải. (ooo)
MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM
- Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ
- Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nỗi dậy.
- Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.
- Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.
- Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường, kiêu ngạo.
- Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
- Với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.
- Thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân mà ý có mưu đồ.
- Thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.
- Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.
Bởi vậy, Phật dạy lấy bịnh khổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm giải thoát, lấy khúc mắc làm thú vị, lấy ma quân làm bạn đạo, lấy khó khăn làm thích thú, lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy người chống đối làm nơi giao du, coi thi ân như đôi dép bỏ, lấy sự xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh. Nên chấp nhận trở ngại thì lại thông suốt, mà cầu mong thông suốt thì sẽ bị trở ngại. Thế Tôn thực hiện tuệ giác Bồ đề ngay trong mọi sự trở ngại. Ương Quật hành hung, Đề Bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi, và sự phá hoại lại làm sự tác thành, hay sao?
Ngày nay, những người học đạo, trước hết không dấn mình vào trong mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại ập đến thì không thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào?
(Luận Bảo Vương Tam Muội)
NGUỒN THAM KHẢO
- Kinh Di Giáo, Cưu-ma-la-thập dịch từ Phạn sang Hán, Sakya Minh-Quang soạn dịch từ Hán sang Việt, Học Viện Phật Thừa Buddhayana Academy, IL,
- Nghi Thức Tụng Niệm Hàng Ngày, Hòa thượng Thích Thiện Thanh soạn và dịch. Pl Chùa Phật Tổ California.
- Kinh Tụng của Chùa Dược Sư do sư bà Hải Triều Âm biên soạn. https://chuaduoc- org/kinh-sach/
- Nghi Lễ Hàng Ngày - 50 Kinh Tụng và các Lễ Vía trong Năm, Thích Nữ Giới Hương biên soạn, Hương Sen Press, 2021.
- Tổng hợp nhiều nguồn trên Google.
Kính mời đọc toàn kinh DI GIÁO: 136-Nghi_Thức_Thọ_Trì_Kinh_Di_Giáo-Inside-20260523-2.pdf


